dich vu kiem toan binh duong | kiểm toán bình dương | cao plus | huong dan dang ky m88 | fb88 | huong dan dang ky fun88 | vao fun88 | link dang nhap m88 dang ky tai khoan fun88 | fun88asia | nha cai uy tin nhat viet nam | dang ky fun88 | dang ky tai khoan 188bet | nha cai uy tin 2018 | fb88 | huong dan dang ky 188bet | dang ky k8 | huong dan dang ky w88 | dang ky tai khoan 12bet | dang ky tai khoan 12bet | cach vao 12bet | m88so | m88bet |
Vietnamese English

Đánh giá hiệu quả chống lại ký sinh trùng sốt rét in-vitro bằng dịch chiết methanol của cây Bridelia ferruginea và sự thay đổi hệ protein của ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparium khi phản ứng với dịch chiết

Download this file (Đánh giá hiệu quả chống lại ký sinh trùng sốt rét in-vitro bằng dịch chiết methanol của cây Bridelia ferruginea và sự thay đổi hệ protein của ký sinh trùng....doc)
Thách thức hiện nay đối với bệnh sốt rét là chưa có vaccine nào được cấp phép sử dụng và việc lạm dụng thuốc trong điều trị sốt rét gây ra tình trạng kháng thuốc của ký sinh trùng. Vì vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là tìm kiếm các thuốc kháng bệnh sốt rét mới có nguồn gốc từ thực vật. Việc sử dụng các cây thảo dược để điều trị bệnh sốt rét đã được ghi chép từ thời cổ đại, ví dụ điển hình là cây Cinchona succiruba và cây Artemisia annua được sử dụng lâu đời trong điều trị bệnh sốt rét. Trong nghiên cứu này, khả năng kháng sốt rét của dịch chiết methanol của cây Bridelia ferruginea trên ký sinh trùng Plasmodium falciparium 3D7 được khảo sát in-vitro thông qua máu người bị nhiễm sốt rét và so sánh sự thay đổi của hệ protein của ký sinh trùng sốt rét dưới sự tác động của dịch chiết. Khả năng kháng sốt rét của dịch chiết methanol của cây được khảo sát ở các nồng độ 10, 20, 30, 40 and 50µg/ml và được đánh giá bằng microscopic test, flow cytometry assay và microtiter assay (MTT). Kết quả cho thấy nồng độ ức chế 50% (IC50) trong microscopic test và flow cytometry assay là ở giữa mức 10 và 20µg/ml trong khi MTT assay có IC50 là 40µg/ml. Mẫu đối chứng và mẫu được xử lý ở 20µg/ml and 30 µg/ml dịch chiết được sử dụng để phân tích sự thay đổi của hệ protein ký kinh trùng sốt rét sử dụng phương pháp điện di một chiều và sắc ký lỏng khối phổ MS/MS. Kết quả cho thấy, tổng cộng có 40 protein được tìm thấy trong mẫu đối chứng trong khi chỉ 28 protein được tìm thấy trong mẫu xử lý. Qua so sánh, có 11 protein hiện diện trong cả hai mẫu đối chứng và mẫu đã xử lý. Ngoài ra, có 29 protein đặc thù có trong mẫu đối chứng và 17 protein đặc thù có trong mẫu xử lý. Điều này chứng tỏ sự biểu hiện của 11 protein chung là cần thiết cho sự phát triển của ký sinh trùng trong tế bào máu người và không bị sự tác động của dịch chiết. Sự biểu hiện của 17 protein đặc thù trong mẫu đã xử lý được xem như biomarker và sự biểu hiện của 29 protein đặc thù trong mẫu đối chứng khi so sánh với 17 protein trong mẫu xử lý cho thấy sự hiện diện của dịch chiết đã làm giảm sự biểu hiện protein ký sinh trùng. Kết quả nghiên cứu cho thấy dịch chiết cây Bridelia ferruginea thể hiện tốt hoạt động kháng ký sinh trùng sốt rét.
 Báo cáo tại Hội nghị khoa học Y tế công cộng lần 2 của Hội Y tế công cộng TPHCM

Xin vui lòng tải file đính kèm

Đánh giá thực trạng ô nhiễm vi khuẩn chỉ điểm vệ sinh thực phẩm trong thịt lợn tại một số cơ sở giết mổ và kinh doanh sản phẩm thịt trên địa bàn xã Bình Trị và Bình Nguyên, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

Download this file (Đánh giá thực trạng ô nhiễm vi khuẩn chỉ điểm vệ sinh thực phẩm trong thịt lợn tại một số cơ sở giết mổ và kinh doanh sản phẩm thịt.doc)

Khảo sát tình hình giết mổ gia súc trên địa bàn huyện Bình Sơn cho thấy: các cơ sở giết mổ phân tán nhỏ lẻ trong các khu dân cư hoặc nằm sát chợ, hoạt động theo truyền thống gia đình. Mỗi xã có 2 - 3 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tự phát xây dựng chưa tuân thủ quy trình thú y. Kết quả kiểm tra VSV trong thịt lợn tại 2 cơ sở giết mổ cho thấy: 100% không đạt chỉ tiêu về TSVKHK và E. coli; 34,6% mẫu không đạt chỉ tiêu Salmonella  và 34,6 % mẫu không đạt cả 3 chỉ tiêu kiểm tra. Mẫu thịt thu tại chợ Bình Trị và chợ Nước Mặn: 100% mẫu không đạt chỉ tiêu TSVKHK và E. coli; 16,7 % không đạt chỉ tiêu vi khuẩn Salmonella  và 16,7% mẫu không đạt cả 3 chỉ tiêu kiểm tra. Những kết quả này đã góp phần phản ánh tình trạng ô nhiễm VSV trong thịt, từ đó cảnh báo đối với các cơ quan chức năng, cơ quan quản lý Nhà nước về vấn đề kiểm soát giết mổ - kiểm tra vệ sinh thú y. 

 
Báo cáo tại Hội nghị khoa học Y tế công cộng lần 2 của Hội Y tế công cộng TPHCM

Xin vui lòng tải file đính kèm

Bổ sung i ốt vào hạt nêm- Giải pháp mới cải thiện tình trạng thiếu hụt i ốt trong cộng đồng

Download this file (Bổ sung i ốt vào hạt nêm- Giải pháp mới cải thiện tình trạng thiếu hụt i ốt trong cộng đồng.doc)
Hiện nay người dân sử dụng rất nhiều các loại gia vị mặn khác ngoài muối để chế biến thức ăn như hạt nêm không có iốt, là một trong những nguyên nhân khiến cho tình trạng thiếu hụt iốt gia tăng. Mục tiêu: Thiết kế công thức và xây dựng qui trình sản xuất hạt nêm bổ sung iốt.
Phương pháp: Sử dụng phương pháp thử nghiệm, phân tích hóa lý để xây dựng thành phần công thức. Khảo sát thông số qui trình thông qua các thí nghiệm xác định nhiệt độ, thời gian, tỷ lệ dung dịch bổ sung. Cảm quan sản phẩm bằng phương pháp cảm quan cho điểm và thị hiếu theo TCVN 3215 – 79. Đánh giá hiệu quả sử dụng bằng thử nghiệm lâm sàng mù đơn trước sau trên cùng một nhóm đối tượng.
Kết quả: Công thức bổ sung 10g KIO3/100kg nguyên liệu (tương đương 59,3mg iốt/kg hạt nêm) trộn với tỉ lệ dung dịch phun sương 3,3%, thời gian trộn 3 phút và nhiệt độ sấy tại khu vực đầu vào, trung tâm, đầu ra là 600C -900C - 600C trong thời gian 10 phút đảm bảo chất lượng về cảm quan, độ ẩm, hàm lượng iốt và chỉ tiêu vi sinh. Có sự gia tăng iốt niệu 24 giờ có ý nghĩa phòng bệnh trên người trưởng thành sử dụng hạt nêm bổ sung iốt so với hạt nêm không iốt (trung bình là 320,6 + 42,3µg/24giờ, so với 131,5 + 42,3µg/24 giờ), với p < 0,0001. Kết luận: Nghiên cứu thành công công thức và qui trình sản xuất hạt nêm bổ sung iốt góp phần cải thiện tình trạng thiếu iốt trong cộng đồng.

Báo cáo tại Hội nghị khoa học Y tế công cộng lần 2 của Hội Y tế công cộng TPHCM

Xin vui lòng tải file đính kèm

Tinh dầu lá trầu Hóc môn và hoạt tính sinh học

Download this file (Tinh dầu lá trầu Hóc môn và hoạt tính sinh học.doc)
Các phenolic chính trong tinh dầu lá trầu Hóc Môn được chúng tôi nhận danh là chavibetol 1, chavibetol acetate 2, 4-allylpyrocatechol diacetate 3 (APC diacetate). Thành phần chavibetol và tổng phenolic gồm 3 chất 1, 2, 3 ảnh hưởng nhiều đến hoạt tính kháng vi sinh vật, kháng oxi hóa và đặc biệt là khả năng trung hòa Enterovirus 71 (EV 71) gây bệnh Tay Chân Miệng (TCM) của tinh dầu được chúng tôi phát hiện lần đầu tiên  vào năm 2012.
Cũng lần đầu tiên năm 2011 chúng tôi phát hiện khi chưng cất lá trầu bằng lôi cuốn hơi nước trong nước không muối NaCl, có sự chuyển đổi của 32 qua 1 thông qua phản ứng có gốc enzym mà hệ quả là hàm lượng tinh dầu thu được đạt thấp cũng như tổng phenolic trong tinh dầu cũng giảm quan trọng. Trong báo cáo nầy, chúng tôi nêu  các điều kiện thực nghiệm cho phép đạt tinh dầu lá trầu với hiệu suất cao và có tổng phenolic lớn hoặc tinh dầu có hàm lượng chavibetol cao và đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật, đặc biệt khả năng trung hòa EV 71 của tinh dầu lá trầu theo tổng phenolic và hoạt tính kháng oxi hóa theo thành phần chavibetol.

Báo cáo tại Hội nghị khoa học Y tế công cộng lần 2 của Hội Y tế công cộng TPHCM

Xin vui lòng tải file đính kèm

Đơn vị tài trợ