dich vu kiem toan binh duong | kiểm toán bình dương | cao plus | fb88 | 188betasia | 188bet | dang ky 188bet | w88asia | 12bet | fun88 | fun88 | vao fun88 | link dang nhap m88 | nha cai uy tin nhat viet nam | dang ky tai khoan 12bet | cach vao 12bet |
Vietnamese English

Báo động tình trạng thiếu Iốt ở phụ nữ mang thai TP.HCM

BÁO ĐỘNG TÌNH TRẠNG THIẾU IỐT Ở PHỤ NỮ MANG THAI TP.HCM

Trần Thị Minh Hạnh, Phạm Ngọc Oanh, Phan Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Nhân Thành, Đỗ Thị Ngọc Diệp, & Lê Thị Kim Quí.

Trung tâm dinh dưỡng TP.HCM

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Thiếu iốt là vấn đề sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam. Thiếu iốt ở phụ nữ mang thai (PNMT) sẽ dẫn đến những hậu quả nặng nề nhưng đến nay vẫn chưa có số liệu về tình trạng này ở PNMT TP.HCM. Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thiếu iốt (iốt niệu < 10mg/dl) và các yếu tố liên quan ở PNMT TP.HCM. Phương pháp: Điều tra cắt ngang trên 776 PNMT tại TP.HCM. Đối tượng được lấy một mẫu nước tiểu  & một mẫu muối đang dùng tại nhà để định lượng iốt, được phỏng vấn kiến thức & thực hành về phòng chống thiếu iốt. Kết quả: Iốt niệu trung vị của PNMT là 6,3mg/dl, tỉ lệ PNMT có iốt niệu <10mg/dl là 72,8%, với tỉ lệ thiếu iốt nhẹ (iốt niệu 5-9,9mg/dl) là 33,6%, thiếu vừa (2-4,9mg/dl) là 27,3%, & thiếu nặng (iốt niệu <2mg/dl) là 11,9%. Iốt niệu trung vị của PNMT ở 3 tháng đầu, 3 tháng giữa, và 3 tháng cuối lần lượt là 9,1mg/dl;7,6mg/dl; và 5,7mg/dl. Sống ở vùng ngoại thành hoặc ven có nguy cơ thiếu iốt cao gấp 1,4 lần so với sống ở vùng nội thành. Dùng muối iốt (MI) đủ tiêu chuẩn phòng bệnh giúp giảm 53% nguy cơ bị thiếu iốt. Tỉ lệ PNMT có sử dụng MI là 68,1%, & dùng MI đủ tiêu chuẩn phòng bệnh là 56,8%. Kết luận: Tình trạng thiếu hụt iốt ở PNMT TP.HCM là rất đáng lo ngại & cần được báo động. Dùng MI có hàm lượng iốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh là yếu tố bảo vệ đối với tình trạng thiếu iốt ở PNMT.

Từ khóa: Phụ nữ mang thai, thiếu iốt, iốt niệu.

SUMMARY

ALERT ON IODINE DEFICIENCY IN PREGNANT WOMEN IN HCMC

Tran Thi Minh Hanh, Pham Ngoc Oanh, Phan Nguyen Thanh Binh, Nguyen Nhan Thanh, Do Thi Ngoc Diep and Le Thi Kim Qui.

Background: Iodine deficiency is a public health problem in Vietnam. Iodine deficiency in pregnant women induces severe consequences. Up to now, there is no information on iodine status of pregnant women in HCMC. Objectives: To determine the prevalence of iodine deficiency (urinary iodine <10mg/dl) and related factors in pregnant women in HCMC.Methods: A cross-sectional survey was conducted in 776 pregnant women in HCMC. An urine sample in the morning of survey and a sample of salt used at home were collected from each subject to measure iodine. A structured questionnaire was used to interview the subjects for their knowledge on iodine deficiency prevention. Iodine deficiency was classified into 3 groups as severe (urinary iodine < 2mg/dl), moderate (2-4,9mg/dl), and mild (5-9,9mg/dl). Results: Median value of urinary iodine was 6,3mg/dl. The prevalence of iodine deficiency in pregnant women (urinary iodine <10mg/dl) was 72,8%, in which mild level was 33,6%, moderate was 27,3%, and  severe was 11,9%. Median values  of urinary iodine of pregnant women in the 1st trimester, 2nd trimester, and 3rd trimester were 9,1mg/dl; 7,6mg/dl; và 5,7mg/dl, respectively. Pregnant women living in rural or suburban areas showed a risk of iodine deficiency 1.4 times higher than to those living in urban area. Increasing 1 month during pregnancy raised the risk of iodine deficiency 21%. Using iodized salt (iodine between 15-50ppm) decreased 53% risk of iodine deficiency. The prevalence of pregnant women using iodized salt was 68,1%, the percentage of those using  iodized salt (with iodine between 15-50ppm) was 56.8%. The prevalence of pregnant women havingknowledge on iodine deficiency prevention was very low. Conclusions: Since iodine deficiency causes severe consequences, our findings indicated a high prevalence of iodine deficiency in pregnant women in HCMC and pregnancy in the later stage versus the early one has higher risk of iodine deficiency, thus requiring policy maker to  pay more attention for this vulnerable population. We also found that using salt with sufficient iodine was a protective factor against iodine deficiency.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thiếu iốt là vấn đề sức khoẻ cộng đồng quan trọng của nhiều nước trên thế giới(1), kể cả Việt Nam(2). Theo Tổ chức Y tế Thế giới, thiếu iốt là nguyên nhân quan trọng nhất gây tổn thương não & hệ thần kinh mà chúng ta có thể phòng ngừa được(3). Thiếu iốt gây ra nhiều hậu quả nặng nề, đặc biệt là ở phụ nữ mang thai (PNMT) (4). Thiếu iốt trong quá trình mang thai sẽ làm tăng nguy cơ sẩy thai, chết chu sinh ở trẻ, hoặc trẻ sanh ra sẽ bị thiểu năng tuyến giáp, bướu cổ, điếc, chậm phát triển cả trí não lẫn thể chất. Một nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy trong vùng thiếu iốt có đến 55,0% PNMT có tình trạng thiếu iốt ở mức độ vừa và 13,2% bị thiếu nặng (5). Ngay cả ở một số vùng đủ iốt thì tình trạng thiếu iốt ở PNMT cũng cao hơn so với các đối tượng khác (6-8).

Tại Việt Nam, mặc dù chương trình phòng chống các rối loạn do thiếu iốt (PCCRLTI) đã được triển khai từ năm 1995 trên toàn quốc nhưng đến năm 2005 thì tỉ lệ iốt niệu dưới mức đủ để phòng bệnh (<10mg/dl) ở phụ nữ tuổi sanh đẻ (15-49 tuổi) tại TP.HCM vẫn còn rất cao (59,9%). Tỉ lệ hộ gia đình sử dụng muối iốt (MI) đủ hàm lượng phòng bệnh là rất thấp (60,8%) (9). Như vậy, người dân thành phố không tránh khỏi nguy cơ bị thiếu iốt. Khi đó, tình trạng thiếu iốt ở PNMT có lẽ sẽ nặng nề hơn do nhu cầu iốt tăng cao ở đối tượng này. Tuy nhiên, cho đến nay TP.HCM vẫn chưa có số liệu về tình trạng thiếu iốt ở PNMT. Điều này hướng đến việc cần thiết phải khảo sát tình trạng thiếu hụt iốt & các yếu tố liên quan ở PNMT TP.HCM nhằm định hướng can thiệp thích hợp.

MỤC TIÊU

  1. Xác định mức iốt niệu trung vị của PNMT.
  2. Xác định tỉ lệ PNMT bị thiếu iốt (iốt niệu <10mg/dl).
  3. Xác định tỉ lệ PNMT sử dụng MI đủ tiêu chuẩn phòng bệnh.

PHƯƠNG PHÁP                                            

Đối tượng. Điều tra cắt ngang được thực hiện tại 30 phường/xã (PX) tại TP.HCM được chọn ngẫu nhiên theo phương pháp PPS. Tổng số 776 PNMT (25-30 PNMT ở mỗi PX) tham gia điều tra được phỏng vấn kiến thức về tác hại khi bị thiếu iốt ở PNMT, cách phòng chống thiếu iốt, & cách bảo quản MI. Mỗi đối tượng được yêu cầu lấy một mẫu nước tiểu trong buổi sáng điều tra để định lượng iốt bằng phương pháp động học xúc tác dựa vào phản ứng Sandell-Kolthoff(10). Mẫu muối đang sử dụng tại nhà (khoảng 20g) được thu thập để định lượng iốt bằng phương pháp chuẩn độ theo tiêu chuẩn (Standard titration method). Định lượng iốt trong nước tiểu & trong muối được phân tích tại labo của Trung tâm Dinh dưỡng (TTDD), là labo được kiểm định định kỳ bởi Chương trình PCCRLTI quốc gia. Hệ số dao động (Coefficient of variation) của xét nghiệm định lượng iốt niệu & muối tại labo của TTDD là < 10%.

Tiêu chuẩn chẩn đoán & phân loại.

-      Thiếu iốt trong cộng đồng: khi iốt niệu trung vị <10mg/dl (11).

-      Nồng độ iốt trong nước tiểu được phân chia theo các mức độ sau:

Thiếu nặng:

 

< 2 mg/dl

Thiếu vừa:

 

2 – 4,9 mg/dl

Thiếu nhẹ:

 

5 – 9,9 mg/dl

Đủ iốt:

 

³ 10 mg/dl

-      Hàm lượng iốt trong muối được phân như sau (11):

Muối thường (không có iốt)

 

< 5 ppm

Iốt trong muối không đủ để phòng bệnh:

 

5 – 14,9 ppm

Iốt trong muối đủ để phòng bệnh:

 

15 - 50 ppm

Iốt trong muối cao:

 

>50ppm

-      Kiến thức về phòng chống thiếu iốt bao gồm các tác hại khi bị thiếu iốt ở PNMT, biện pháp phòng chống thiếu iốt và cách bảo quản MI: bao gồm 7 câu hỏi, mỗi câu hỏi đúng được tính 1 điểm.

-      Vùng cư ngụ được phân thành nội thành (Q.1, Q.3, Q.4, Q.5, Q.6, Q.8, Q.10, Q.11, Tân Bình, Phú Nhuận, Gò Vấp, Tân Phú) và ngoại thành & ven (Q.2, Q.9, Q.12, Bình Chánh, Bình Tân, Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Đức).

Phương pháp xử lý số liệu:

Số liệu được nhập bằng phần mềm EPI-INFO 6.0 & xử lý bằng phần mềm SPSS 11.0. Test Chi bình phương được sử dụng để so sánh các tỉ lệ. t-test được sử dụng để so sánh các số trung bình. OR, có được từ phân tích hồi qui đa biến, được sử dụng để phân tích mối tương quan giữa thiếu iốt & các yếu tố liên quan. Giá trị p<0,05 được xem như có ý nghĩa thống kê.

KẾT QUẢ

Đặc điểm của PNMT tham gia điều tra được mô tả trong Bảng 1. Hơn 50% PNMT tham gia điều tra ở nhóm 20-29 tuổi. PNMT ở 3 tháng cuối & 3 tháng giữa thai kỳ chiếm đa số, lần lượt là 64% & 32%.

Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng tham gia điều tra

 

 

 

Nội thành

 

Ngoại thành & ven

 

Toàn bộ

 

 

 

n

%

 

n

%

 

n

%

Nhóm tuổi (năm)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

< 20

 

27

6,0

 

20

6,1

 

47

6,1

 

20-29

 

221

49,2

 

199

60,9

 

420

54,1

 

30-39

 

194

43,2

 

105

32,1

 

299

38,5

 

≥ 40

 

7

1,6

 

3

0,9

 

10

1,3

Tam cá nguyệt

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3 tháng đầu

 

26

5,8

 

3

0,9

 

29

3,7

 

3 tháng giữa

 

146

32,5

 

102

31,2

 

248

32,0

 

3 tháng cuối

 

277

61,7

 

222

67,9

 

499

64,3

Toàn bộ 

 

449

100,0

 

327

100,0

 

776

100,0

Các mức độ thiếu iốt của PNMT được thể hiện trong Biểu đồ 1. Tỉ lệ PNMT có iốt niệu thấp (<10mcg/dl) là 72,8%. Trong đó, 33,6% thiếu nhẹ, 27,3% thiếu vừa, & 11,9% thiếu nặng. Tỉ lệ PNMT có lượng iốt niệu đủ để phòng bệnh là 27,3%. Mức iốt niệu trung vị của PNMT TP.HCM là 6,3mg/dl.

 

Biểu đồ 1. Các mức độ thiếu iốt qua nồng độ iốt niệu ở PNMT theo vùng cư ngụ.

 

 

 

 

Mức iốt niệu trung vị của PNMT ở từng tam cá nguyệt được thể hiện trong Biểu đồ 2. Iốt niệu trung vị giảm dần từ 3 tháng đầu (9,1mg/dl) đến 3 tháng giữa (7,6mg/dl) và thấp nhất ở 3 tháng cuối (5,7mg/dl).

 

Biểu đồ 2. Mức iốt niệu trung vị của PNMT theo từng giai đoạn thai kỳ.

 

Bảng 2 cho thấy có mối liên quan giữa hàm lượng iốt trong muối đang sử dụng & iốt trong nước tiểu. PNMT sử dụng muối thường hoặc MI không đủ hàm lượng để phòng bệnh có tỉ lệ iốt niệu <10mg/dl cao hơn so với PNMT dùng MI đủ hàm lượng phòng bệnh (81,7% & 84,8% so với 67,5%, p<0,01). Tỉ lệ iốt niệu <10mg/dl ở PNMT sử dụng MI thường xuyên thấp hơn so với PNMT không dùng MI hoặc dùng MI không thường xuyên (69,7% so với 85,0% & 80,3%, p<0,01). PNMT sống ở ngoại thành & vùng ven có tỉ lệ thiếu iốt cao hơn so với PNMT ở nội thành (76,7% so với 69,9%, p<0,05). PNMT ở 3 tháng cuối thai kỳ có tỉ lệ thiếu iốt cao hơn so với PNMT ở 3 tháng đầu & 3 tháng giữa (77,5% so với 65,5% & 64,1%, p<0,01). Không quan sát được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ iốt niệu thấp với kiến thức phòng chống thiếu iốt & trình độ văn hóa.

Bảng 2. Mối tương quan giữa nồng độ iốt niệu & các yếu tố liên quan

 

 

 

Iốt niệu ³10mg/dl

 

Iốt niệu <10mg/dl

 

Giá trị p*

 

 

 

n

%

 

n

%

 

Loại muối đang dùng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Muối thường

 

44

18,3

 

196

81,7

 

0,000

 

MI không đủ phòng bệnh

 

5

15,2

 

28

84,8

 

 

 

MI đủ phòng bệnh

 

139

32,5

 

289

67,5

 

 

 

MI hàm lượng cao

19

36,5

 

33

63,5

 

 

Tần suất dùng MI

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Không dùng MI

 

17

15,0

 

96

85,0

 

0,001

 

Thỉnh thoảng dùng

 

12

19,7

 

49

80,3

 

 

 

Dùng MI mỗi ngày

 

178

30,3

 

409

69,7

 

 

Địa dư

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nội thành

 

135

30,1

 

313

69,9

 

0,035

 

Ngoại thành & ven

 

76

23,3

 

250

76,7

 

 

Tam cá nguyệt thai kỳ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3 tháng đầu

 

10

34,5

 

19

65,5

 

0,000

 

3 tháng giữa

 

89

35,9

 

159

64,1

 

 

 

3 tháng cuối

 

112

22,5

 

385

77,5

 

 

Kiến thức phòng ngừa thiếu iốt **

 

 

 

 

 

 

 

< 5 điểm

 

179

26,6

 

494

73,4

 

0,258

 

³ 5 điểm

 

32

32,0

 

68

68,0

 

 

Trình độ văn hóa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

£ Cấp 2

 

146

29,1

 

355

70,9

 

0,132

 

> Cấp 2

 

65

24,1

 

205

75,9

 

 

* Sử dụng phép kiểm chi bình phương.

** Có tất cả 7 câu hỏi về kiến thức phòng chống thiếu iốt (tác hại khi bị thiếu iốt ở PNMT, biện pháp phòng chống thiếu iốt, cách bảo quản MI) được tính 1 điểm cho mỗi câu đúng.

Theo Bảng 3, sống ở vùng ngoại thành & ven có nguy cơ thiếu iốt là 1,4 lần so với PNMT sống ở vùng nội thành. Trong suốt 9 tháng của thai kỳ, cứ thêm 1 tháng mang thai sẽ tăng thêm 21% nguy cơ bị thiếu iốt. Ngược lại, dùng MI với hàm lượng iốt trong muối đủ tiêu chuẩn phòng bệnh giúp giảm 53% nguy cơ thiếu iốt, cũng như dùng MI thường xuyên mỗi ngày sẽ giúp giảm 59% nguy cơ bị thiếu iốt. Sau khi đưa các yếu tố trên vào phân tích đa biến, chỉ còn 1 yếu tố bảo vệ đối với tình trạng thiếu iốt là dùng MI đủ tiêu chuẩn phòng bệnh. Trong khi đó, mối tương quan giữa vùng cư ngụ và tháng mang thai với nguy cơ thiếu iốt vẫn còn ý nghĩa thống kê (Bảng 3).

Bảng 3. Yếu tố tương quan với tình trạng thiếu iốt của PNMT TP.HCM.

 

 

OR

(95% CI)

p

 

OR hiệu chỉnh (95% CI)

p

Loại muối đang dùng

 

 

 

 

 

 

Muối thường

1

 

 

1

 

 

MI không đủ phòng bệnh

1,26 (0,52-3,02)

0,595

 

1,46 (0,64-3,33)

0,346

 

MI đủ phòng bệnh

0,47 (0,30-0,73)

0,002

 

0,55 (0,33-0,91)

0,021

 

Muối hàm lượng iốt cao

0,39 (0,21-0,74)

0,006

 

0,45 (0,21-0,97)

0,043

Tần suất dùng MI

 

 

 

 

 

 

Không dùng MI

1

 

 

1

 

 

Thỉnh thoảng dùng MI

0,72 (0,29-1,78)

0,463

 

0,91 (0,36-2,32)

0,835

 

Dùng MI mỗi ngày

0,41 (0,24-0,69)

0,002

 

0,63 (0,35-1,13)

0,118

Địa dư

 

 

 

 

 

 

Nội thành

1

 

 

1

 

 

Ngoại thành & ven

1,42 (1,03-1,95)

0,032

 

1,41 (1,05-1,89)

0,024

Tháng thai

1,21 (1,11-1,32)

0,000

 

1,20 (1,09-1,31)

0,000

Bảng 4 cho thấy tỉ lệ PNMT biết ít nhất 1 tác hại của thiếu iốt trong thai kỳ là 58,5%, biết từ 2 tác hại trở lên là 17,5%, & biết đầy đủ 3 tác hại trở lên chỉ có 1,4%. Tỉ lệ PNMT biết dùng MI để phòng ngừa thiếu iốt là 70,5% nhưng thực tế chỉ có 68,1% PNMT có sử dụng MI. Trong đó, tỉ lệ sử dụng MI đủ tiêu chuẩn phòng bệnh chỉ là 56,8%. Lý do không sử dụng MI chủ yếu là do thói quen dùng muối thường, khoảng ¼ đối tượng cho là do mùi vị MI khó chịu.

Bảng 4. Kiến thức của PNMT về phòng chống thiếu iốt

 

 

 

Tần số

 

Tỉ lệ (%)

Biết tác hại của thiếu iốt đối với thai kỳ (n chung =775)

 

 

 

 

 

Biết ít nhất 1 tác hại

 

454

 

58,5

 

Biết ít nhất 2 tác hại

 

136

 

17,5

 

Biết từ 3 tác hại trở lên

 

11

 

1,4

Biết cách dùng MI phòng ngừa thiếu iốt (n chung =775)

 

546

 

70,5

Hiện đang dùng MI (hàm lượng iốt ≥5ppm) (n chung=754)

 

513

 

68,1

Hiện đang dùng MI 15-50ppm (n chung=754)

 

428

 

56,8

Biết cách bảo quản MI (đậy kín, để nơi mát) (n chung=775)

 

213

 

27,5

Lý do không dùng MI hoặc dùng không thường xuyên (n chung=170)

 

 

 

Thói quen dùng muối thường

 

76

 

44,7

 

Mùi vị khó chịu

 

43

 

25,3

 

Không cần thiết phải dùng MI

 

14

 

8,2

 

Dùng muối thường tiện cho bán thức ăn

 

8

 

4,7

 

Nhà có người bị bướu cổ

 

6

 

3,5

 

Đắt tiền

 

2

 

1,2

 

MI không sạch

 

1

 

0,6

Bàn luận

Iốt niệu từ mẫu nước tiểu bất kỳ có thể được dùng để đánh giá tình trạng thiếu hụt iốt trên cộng đồng & được thể hiện bằng giá trị trung vị (11). Mức iốt niệu <10mg/dl được đánh giá là thiếu hụt iốt (11). Iốt niệu trung vị của PNMT TP.HCM là 6,3mg/dl, dưới mức an toàn để phòng bệnh (iốt niệu ≥10mg/dl) (Biểu đồ 1), thấp hơn so với iốt niệu trung vị của phụ nữ tuổi sanh đẻ TP.HCM năm 2007 (7,2mg/dl)(12), và chỉ bằng một nửa so với iốt niệu trung vị toàn quốc năm 2005 (12,2mg/dl)(13). Tỉ lệ PNMT có iốt niệu <10mg/dl là khá cao (72,8%). Trong đó, mức độ thiếu nhẹ chiếm gần một nửa (33,6%), tỉ lệ thiếu vừa là 27,3%, & thiếu nặng là 11,9% (Biểu đồ 1). Kết quả này cho thấy tình trạng thiếu hụt iốt ở PNMT TP.HCM là phổ biến & rất đáng lo ngại cần được giám sát thường xuyên & có biện pháp phòng ngừa do hậu quả thiếu iốt ở đối tượng này là gánh nặng đối với gia đình & xã hội.

Thiếu iốt ở PNMT sẽ ảnh hưởng đến việc tổng hợp hormon tuyến giáp ở cả bà mẹ & thai nhi. Và sự thiếu này sẽ khác biệt trong các giai đoạn thai kỳ. Trong giai đoạn đầu thai kỳ, sự phát triển của thai nhi dựa vào hormon do tuyến giáp của mẹ sản xuất là chủ yếu. Từ khoảng giữa thai kỳ, tuyến giáp của thai nhi mới bắt đầu sản xuất hormon tuyến giáp & hoạt động này là tuyệt đối cần thiết cho sự phát triển hoàn chỉnh của thai nhi (14). Do vậy, khi sự thiếu iốt xảy ra từ trước, trong suốt nửa đầu thai kỳ sẽ dẫn đến thiếu hụt trầm trọng trong giai đoạn sau do nhu cầu tăng cao ở giai đoạn sau thai kỳ nhằm đáp ứng cho sự phát triển nhanh của thai nhi. Kết quả từ nghiên cứu của chúng tôi cho thấy iốt niệu trung vị của PNMT ở những thai kỳ sau thấp hơn so với đầu thai kỳ: 3 tháng đầu là 9,1mg/dl, 3 tháng giữa là 7,6mg/dl và thấp nhất ở 3 tháng cuối là 5,7mg/dl (Biểu đồ 2). PNMT ở những tháng sau thai kỳ có nguy cơ cao hơn bị thiếu iốt so với những tháng đầu (Bảng 3). Nghiên cứu cohort ở PNMT tại Ấn độ cũng cho kết quả tương tự với iốt niệu giảm dần theo các giai đoạn thai kỳ (lần lượt là 10,6 mg/dl; 7,1mg/dl; và 6,9mg/dl) (15). Sự giảm tiết iốt ra nước tiểu ở giai đoạn sau thai kỳ có thể dotuyến giáp thai nhi bắt đầu hoạt động để tạo hormon tuyến giáp từ giữa thai kỳ nên tăng lượng iốt sử dụng cho cả mẹ và thai nhi (14).

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bổ sung iốt vào muối là cách hiệu quả nhất để PCCRLTI. Tuy nhiên, tỉ lệ sử dụng MI tại TP.HCM nói chung là rất thấp, tỉ lệ sử dụng MI (hàm lượng iốt trong muối ≥15ppm) của người dân thành phố năm 2007 chỉ là 53,8%, rất thấp so với mục tiêu PCCRLTI mà Chương trình đã đề ra (≥90%) (13). Do iốt là một chất dễ bay hơi nên việc bảo quản trong quá trình sử dụng cũng rất quan trọng. Dùng MI nói chung không đủ để bảo vệ khỏi thiếu hụt iốt mà cần quan tâm đến nồng độ iốt đủ phòng bệnh (Bảng 3). Tỉ lệ dùng MI với hàm lượng iốt trong muối đủ để phòng bệnh ở PNMT cũng chỉ ở mức 56,8%.

Theo một số nghiên cứu trên thế giới (7-9), ngay cả những vùng đủ iốt để phòng bệnh bằng cách bổ sung MI cho cộng đồng thì quần thể chung ở cộng đồng nhận đủ iốt nhưng tình trạng thiếu iốt ở PNMT vẫn rất cao. Mang thai được xem như “môi trường” thiếu iốt so với các trạng thái sinh lý khác (5). Điều này có thể do nhu cầu sử dụng iốt để tạo hormon tuyến giáp ở PNMT tăng cao hơn so với các đối tượng khác, iốt lại tăng đào thải qua nước tiểu trong suốt thai kỳ, trong khi đó chế độ ăn của PNMT lại cần hạn chế muối. Như vậy, với tỉ lệ sử dụng MI quá thấp ở PNMT TP.HCM (chỉ 68,1% dùng MI & chỉ một nửa đạt hàm lượng đủ để phòng bệnh) thì tình trạng thiếu iốt ở PNMT sẽ còn trầm trọng hơn nữa.

Sự thiếu iốt ở PNMT TP.HCM cũng không đồng đều giữa các vùng cư ngụ. PNMT sống ở vùng ngoại thành & ven có nguy cơ cao hơn bị thiếu iốt so với PNMT ở vùng nội thành (Bảng 3) dù sự khác biệt về tỉ lệ dùng MI đủ tiêu chuẩn phòng bệnh tại hộ gia đình của PNMT cả hai vùng là không đáng kể (số liệu không trình bày trong bài này). Điều này có thể do việc tiêu thụ MI có khác nhau giữa từng cá thể hoặc do việc sử dụng iốt để tạo hormon giáp của các bà mẹ (hoặc thai nhi) bị thiếu iốt có khác nhau ảnh hưởng đến việc đào thải iốt ra nước tiểu có khác biệt (16).

Kết luận

Iốt niệu trung vị của PNMT TP.HCM là 6,3mg/dl. Tỉ lệ PNMT bị thiếu iốt là 72,8% với các mức độ thiếu nhẹ, vừa, & nặng lần lượt là 33,6%, 27,3%, & 11,9%. Tình trạng thiếu hụt iốt ở PNMT tại TP.HCM hiện nay rất đáng lo ngại & cần được báo động. Dùng MI đủ tiêu chuẩn phòng bệnh là yếu tố bảo vệ đối với tình trạng thiếu iốt ở PNMT. Mang thai ở giai đoạn sau thai kỳ có nguy cơ thiếu iốt cao hơn so với giai đoạn đầu. PNMT ở vùng ngoại thành & ven có nguy cơ thiếu iốt cao hơn so với PNMT ở vùng nội thành.

 

Khuyến nghị

PNMT cần thường xuyên sử dụng muối iốt trong các bữa ăn hàng ngày; và sử dụng đa dạng các loại thực phẩm giàu iốt, hoặc có bổ sung iốt để cung cấp đủ iốt cho cơ thể, nhất là ở các giai đoạn sau thai kỳ.

Chương trình Phòng chống các rối loạn do thiếu iốt cần nghiên cứu bổ sung iốt vào các gia vị mặn khác để đa dạng hóa thực phẩm giàu iốt cho người dân. Có thể nghiên cứu liều bổ sung iốt cho PNMT dưới dạng uống do PNMT thường phải hạn chế gia vị mặn trong khi nhu cầu iốt lại cao.

Lời cám ơn.

Chúng tôi chân thành cám ơn các PNMT đã tham gia điều tra, các cán bộ y tế Q/H & P/X, các cộng tác viên, chính quyền địa phương đã hỗ trợ chúng tôi thực hiện thành công cuộc điều tra này.

Tài liệu tham khảo

1.     de Benoist B et al., eds. Iodine status worldwild. WHO Global Database on Iodine Deficiency. Geneva, World Health Organization, 2004.

2.     Van Binh, T., Kim Uoc, H., Quang Toan, L. Evaluation report: 2000VTN: Report on IDD control activities 2000. Unicef – Evaluation report. Available from: URL: http://www.unicef.org/evaldatabase/index_14348.html

3.     International Council for the Control of Iodine Deficiency Disorder. Available from: URL:http://indorgs.virginia.edu/iccidd/aboutidd.htm

4.     Glinoer D. Pregnancy and iodine. Thyroid. 2001 May;11(5):471-81.

5.     Nina S Dodd and Jagmeet Madan. Iodine status in pregnancy. Asia Pacific Journal of Clinical Nutrition (1993) Volume 2, Number 3:119-123.

6.     Kung AWIodine nutrition of pregnant and lactating women in Hong Kong, where intake is of borderline sufficiency.Public Health Nutr. 2007 Dec;10(12A):1600-1.

7.     Azizi FAminorroya AHedayati MRezvanian HAmini MMirmiran PUrinary iodine excretion in pregnant women residing in areas with adequate iodine intake.Public Health Nutr. 2003 Feb;6(1):95-8.

8.     Marchioni EFumarola ACalvanese APiccirilli FTommasi VCugini PUlisse SRossi Fanelli FD'Armiento M.Iodine deficiency in pregnant women residing in an area with adequate iodine intake. Nutrition. 2008 May;24(5):458-61. Epub 2008 Mar 12.

9.     Ban chủ nhiệm chương trình Phòng chống các rối loạn do thiếu iốt tại TP.HCM. Báo cáo kết quả điều tra KAP sử dụng muối iốt năm 2005.

10.  Unn JT, Crutchfield HE, Gutekunst R, Dunn AD. Methods for measuring iodine in urine. ICCIDD/ UNICEF/ WHO, Netherlands 1993; 11-27.

11.  WHO, UNICEF, ICCIDD. Assessment of iodine deficiency disordersand monitoring their elimination. A guide for programme managers. 3rd edition.  World Health Organization. 2007.

12.  Chương trình phòng chống các rối loạn do thiếu iốt  tại TP.HCM. Báo cáo kết quả giám sát độ phủ MI tại 96 phường/xã thuộc 24 quận/huyện TP.HCM năm 2007. Trung tâm Dinh dưỡng. 2008.

13.  Bệnh viện nội tiết Trung ương. Báo cáo tiến trình hoạt động phòng chống bướu cổ tại Việt Nam, thực trạng thiếu hụt iốt  năm 2007.

14.  Angela M. LeungElizabeth N. Pearce, and Lewis E. Braverman. Iodine Nutrition in Pregnancy and Lactation.Endocrinol Metab Clin North Am. 2011 December; 40(4): 765–777.

15.  Menon KC, Skeaff SA, Thomson CD, Gray AR, Ferguson EL, Zodpey S, Saraf A, Das PK, Pandav CS. The effect of maternal iodine status on infant outcomes in an iodine deficient Indian population. Thyroid. 2011. 21(12):1373-80.

16.  Nohr SB, Laurberg P, Borlum K-G, Pedersen KM, Johanesen PL, Damm P, Fuglsang E, Johansen A. Iodine deficiency in pregnancy in Denmark: Regional variations and frequency of individual iodine supplementation. Acta Obstet Gynecol Scand. 1993. 72:350-353.



Báo cáo tại Hội nghị của Hội Y tế Công cộng TPHCM

Đơn vị tài trợ